THÔNG BÁO TUYỂN DỤNG CỦA MOBIFONE

Trung tâm HN&XTVL trân trọng thông báo đến toàn thể HSSV trong nhà trường thông tin tuyển dụng đến từ chi nhánh Mobifone Sơn La, Quý thầy cô và HSSV đọc được thông tin vui lòng thông báo đến các tập thể lớp để HSSV nắm bắt được cơ hội thuận lợi và nhanh chóng đăng ký tham dự làm cộng tác viên để được trải nghiệm và có thêm thu nhập cũng như cơ hội việc làm trong tương lai. Trân trọng!


THÔNG BÁO TUYỂN DỤNG


Chi nhánh Mobifone Sơn La cần tuyển dụng CỘNG TÁC VIÊN BÁN HÀNG với các tiêu chí như sau:

 

I. Đối tượng:

- Sinh viên trường Cao đẳng Sơn La

 

II. Thời gian:

- Sinh viên chủ động đăng ký thời gian tham gia để đảm bảo không ảnh hưởng đến việc học tập kiến thức chuyên môn và rèn luyện tại nhà trường.

 

III. Quyền lợi của sinh viên khi tham gia:

1. Thu nhập hấp dẫn theo năng lực (trao đổi trực tiếp khi đăng ký tham gia)

2. Cơ hội được tham gia các lớp đào tạo hoàn thiện kỹ năng mềm: Kỹ năng giao tiếp, kỹ năng bán hàng...

3. Cơ hội phát triển bản thân

4. Được ưu tiên tuyển dụng vào các vị trí làm việc của Mobifone khi ra trường

 

III. Liên hệ:

1. Trung tâm Hướng nghiệp và Xúc tiến việc làm - Trường Cao đẳng Sơn La

- Địa chỉ: Phòng 104 - nhà T - Trường CĐSL

- Điện thoại: 0223 874 511

2. Chi nhánh Mobifone Sơn La

- Điện thoại: 0905 507 997 - Anh Khánh; Hoặc: 0936 309 686 - Anh Ánh./.

Giám đốc

Bùi Đình Tố

 
Giới thiệu bài báo của TS. Trần Mai Ước về NCKH của Giảng viên

Hoạt động NCKH trong trường ĐH, CĐ hiện nay là một hoạt động rất quan trọng có ảnh hưởng đến chất lượng GD - ĐT của nhà trường. Để các Đ/c cán bộ giảng viên có thêm cái nhìn toàn diện về tầm quan trọng của hoạt động NCKH và tham khảo thêm một số giải pháp góp phần thúc đẩy hoạt động này một cách có hiệu quả hơn, chúng tôi giới thiệu đến quý thầy cô bài báo dưới đây do tác giả TS. Trần Mai Ước Trường Đại học Ngân hàng Tp.HCM xây dựng. Bài viết đề cập đến NCKH của Giảng viên Đại học tuy nhiên cũng là tài liệu rất thiết thực và gần gũi đối với CBGV trường Cao đẳng. Sau đây là nội dung bài báo được đăng trên Bản tin khoa học và giáo dục 2013 (đã được rút gọn một số nội dung):


NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CỦA GIẢNG VIÊN – YẾU TỐ QUAN TRỌNG GÓP PHẦN NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐÀO TẠO TẠI CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY

 

TS. Trần Mai Ước Trường Đại học Ngân hàng Tp.HCM

1. Dẫn nhập

Hiện nay, bất cứ một trường đại học nào cũng đều có hai nhiệm vụ chính và quan trọng nhất đó là: Đào tạo và nghiên cứu khoa học (NCKH). Đây là hai hoạt động có mối quan hệ hữu cơ, hai nhiệm vụ cơ bản chiến lược của nhà trường, trong đó việc đẩy mạnh giảng viên nhà trường tích cực tham gia các hoạt động NCKH là một trong những biện pháp quan trọng - bắt buộc - cần thiết để hướng đến nâng cao chất lượng đào tạo, đáp ứng tốt hơn nhu cầu ngày càng khắt khe của xã hội.

… NCKH tạo cơ sở, điều kiện, tiền đề nhằm thực hiện tốt nhiệm vụ giảng dạy ở trên lớp. Ngược lại, công tác giảng dạy phản ánh kết quả của hoạt động NCKH. Do vậy, có thể khẳng định rằng, cùng với hoạt động giảng dạy, NCKH là thước đo năng lực chuyên môn của giảng viên.

2. Nội dung

2.1. Những lợi ích cơ bản khi giảng viên tham gia các hoạt động nghiên cứu khoa học

… Việc NCKH lâu nay luôn được các trường đề cao, chú trọng, đặt ra như một nhiệm vụ bắt buộc, thường xuyên và là một tiêu chuẩn quan trọng hàng đầu để đánh giá khả năng toàn diện của giảng viên. Mặc dù vậy, trong thời gian qua, tại các trường đại học, hoạt động NCKH của đội ngũ giảng viên vẫn còn khá “tẻ nhạt”, thậm chí còn “quên”, chứa đựng nhiều hạn chế, bất cập, chưa được quan tâm đúng mức, chưa ngang tầm với nhiệm vụ chuyên môn của giảng viên. Theo Bộ Giáo dục và Đào tạo thống kê: “Hiện có 56.000 cán bộ giảng dạy ở các trường đại học, cao đẳng nhưng chỉ có khoảng 1.100 giảng viên (3%) tham gia nghiên cứu khoa học và rất ít giảng viên trẻ tham gia nghiên cứu”.

Để thích ứng hơn trong giai đoạn hội nhập và phát triển như hiện nay, việc tham gia vào những hoạt động NCKH sẽ có những lợi ích cơ bản như sau:

1. NCKH giúp giảng viên có điều kiện đào sâu hơn, nắm bắt chặt chẽ hơn kiến thức chuyên môn mà mình đang trực tiếp giảng dạy, kịp thời điều chỉnh, bổ sung những nội dung kiến thức chưa chuẩn xác trong bài giảng của mình. Người giảng viên tham gia NCKH một mặt vừa củng cố lại kiến thức chuyên môn của mình mặt khác vừa có điều kiện mở rộng, hiểu biết nhiều hơn từ những kiến thức từ các chuyên ngành khác;

2. quá trình tham gia NCKH sẽ góp phần phát triển tư duy, năng lực sáng tạo, khả năng làm việc độc lập3 , trau dồi tri thức và các phương pháp nhận thức khoa học của giảng viên. Đồng thời hình thành ở giảng viên những phẩm chất của nhà nghiên cứu.

3. quá trình tham gia các hoạt động NCKH cũng đồng thời là quá trình giúp giảng viên tự “update” thông tin, kiến thức một cách thực sự hiệu quả. Hơn nữa, NCKH giúp cho giảng viên “ngộ” thêm lượng kiến thức mới từ những nguồn khác nhau để đánh giá và hoàn thiện lại những kiến thức của chính bản thân mình.

4. thông qua việc NCKH, sẽ tăng thêm sự hiểu biết về ngành nghề, góp phần hình thành và bồi dưỡng tình cảm nghề nghiệp cho giảng viên. Thiết nghĩ, đây là điều cần thiết và quan trọng trong quá trình giảng dạy và hoạt động chuyên môn của giảng viên. Điều này sẽ giúp giảng viên có thể hòa nhập tốt hơn, chủ động hơn trong công việc của mình.

5. quá trình thực hiện các hoạt động NCKH là cơ hội tốt để giảng viên có môi trường, cơ hội bồi dưỡng năng lực NCKH. Đây cũng là cơ sở cần thiết để tiến hành đổi mới nội dung, phương pháp giảng dạy. Điều này sẽ góp phần nâng cao chất lượng đào tạo;

6. trong quá trình tham gia NCKH, nếu đạt kết quả tốt, sẽ là yếu tố quan trọng góp phần nâng cao vị thế và uy tín của chính bản thân giảng viên, đồng thời khẳng định vị thế và uy tín của trường với xã hội. Vì, một trong những tiêu chí để đánh giá, xếp hạng các trường đó chính là mảng NCKH của giảng viên, công nhân viên chức của trường;

7. hoạt động NCKH là một lĩnh vực rất tốt để giảng viên tự khẳng định mình. Khó có thể nói rằng nếu một giảng viên được đánh giá là có năng lực chuyên môn tốt nhưng hàng năm lại không có công trình khoa học nào. Vì năng lực của giảng viên được thể hiện chủ yếu thông qua giảng dạy và NCKH;

8. hoạt động NCKH sẽ góp phần quan trọng để khẳng định uy tín của nhà trường với các trường bạn trong toàn quốc. Mỗi bài viết tham gia hội thảo được đánh giá cao, mỗi công trình NCKH ở các cấp, mỗi bài viết đăng trên tạp chí chuyên ngành với tên cán bộ, giảng viên gắn với tên nhà trường là một lần thương hiệu và uy tín của nhà trường được thể hiện. Danh tiếng tốt của nhà trường, không phải là cái gì đó chung chung, trừu tượng mà nó phải được thể hiện thông qua thành tích đóng góp của từng cán bộ, giảng viên, sinh viên của nhà trường. Thành tích của cá nhân góp phần làm nên thành tích của tập thể.

2.2. Một số bất cập và hạn chế khi giảng viên nghiên cứu khoa học

Hiện nay, hoạt động NCKH và chuyển giao công nghệ là một trong những nhiệm vụ của người giảng viên. Điều này đã được nêu rõ trong quy định về làm việc đối với giảng viên (Ban hành kèm theo Quyết định số 64/2008/QĐ-BGDĐT, của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo). Và mới đây nhất là tại thông tư liên tịch qui định tiêu chuẩn, nhiệm vụ, chế độ làm việc, chính sách đối với giảng viên tại cơ sở đào tạo, bồi dưỡng của Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan trực thuộc chính phủ, trường chính trị tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (Thông tư Số: 06/2011/TTLT-BNVBGDĐT). Mặt khác, nếu như chức năng dạy học và giáo dục là chức năng cơ bản thì NCKH cũng là một chức năng quan trọng của người giảng viên trong xã hội hiện đại. Bên cạnh những kết quả đạt được, thực tế cho thấy phong trào NCKH trong giảng viên những năm vừa qua vẫn còn những bất cập, hạn chế sau:

Thứ nhất, giảng viên chưa nhận thức được tầm quan trọng của NCKH, do vậy, hầu hết giảng viên đều chưa thực sự chủ động đưa ra các đề tài để nghiên cứu. Nhiều đề tài được nghiên cứu dựa trên các mô hình đã được nghiên cứu từ trước, hoặc chưa xuất phát từ nhu cầu thực tế của chính bản thân giảng viên, hoặc nhu cầu của môn học, ngành học.

Thứ hai, trong chương trình đào tạo ở một số trường đại học, cao đẳng hiện nay, vẫn còn tồn tại tình trạng khác biệt về chương trình đào tạo trong một cấp học, ngành học. Cụ thể, có trường đưa vào môn phương pháp nghiên cứu khoa học là môn bắt buộc, có trường thì cho môn này là tự chọn. Cá biệt, vẫn còn một số trường đại học và cao đẳng không đưa môn phương pháp nghiên cứu khoa học vào giảng dạy cho giảng viên. Do vậy, tồn tại một bộ phận giảng viên chưa nắm vững phương pháp nghiên cứu khoa học, cách tìm tài liệu tham khảo, thậm chí, chưa nắm vững xây dựng đề cương, chưa chú ý tìm hiểu cách trình bày một công trình nghiên cứu khoa học. Điều này sẽ dẫn một số lỗi thường mắc phải trong NCKH của giảng viên như: Phạm vi nghiên cứu thường rộng, nặng tính lý thuyết, đối tượng nghiên cứu không rõ ràng, dùng từ ngữ chuyên môn thiếu chính xác,…

Thứ ba, các đề tài giảng viên lựa chọn mang tính chất khái quát, tổng quan nhiều, chưa sâu, chưa đi vào những vấn đề cụ thể, bỏ ngỏ nhiều vấn đề thiết thực. Chủ yếu giảng viên mới đi vào các công trình có nhiều tài liệu để tham khảo, giảng viên còn ngần ngại và “ngán” khi phải lựa chọn những công trình cần sưu tầm nhiều tài liệu, cần phải có điều tra xã hội học, thống kê, chạy mô hình,... Mặt khác, trong quá trình NCKH, giảng viên còn e ngại đưa ra quan điểm cá nhân của riêng mình, chưa khai thác kỹ tài liệu tham khảo, chưa tìm hiểu kỹ vấn đề. Cá biệt còn có giảng viên sao chép các công trình đi trước mà không trích dẫn, vi phạm quy tắc trong NCKH.

Thứ tư, có thể khẳng định rằng, nguồn thu nhập chính yếu của các giảng viên đại học hiện nay đến từ việc giảng dạy. Việc NCKH vừa tốn nhiều thời gian, công sức, trong khi thu nhập lại ít ỏi. Thực tế, nhiều giảng viên dạy vượt quá 200% - 300% số giờ quy định là bình thường, cá biệt một số giảng viên ở một số trường “ôm sô” hơn 1000 tiết/1 học kỳ. Thậm chí nhiều giảng viên còn đi dạy thêm ở trường tư vì ở đó thù lao mỗi tiết dạy cao hơn. Do vậy, giảng viên “lãng quên” NCKH là điều không hề khó hiểu. Bên cạnh đó, từ trước đến nay, chưa có một chế tài nào đối với những người không nghiên cứu. Nhiều giảng viên tại các trường hiện nay không có công trình nghiên cứu nào trong thời gian dài nhưng vẫn được giảng dạy còn là tình trạng phổ biến.

Thứ năm, một bộ phận giảng viên trong quá trình NCKH, do còn hạn chế về trình độ ngoại ngữ, nên trong quá trình tham khảo tài liệu để làm đề tài còn quá lệ thuộc vào Internet. Các tài liệu giảng viên sử dụng đều bằng tiếng Việt, do các nhà nghiên cứu trong nước biên soạn, hoặc dịch lại từ nguyên bản tiếng Anh, Pháp,... Vì vậy, tính thiết thực của tài liệu sử dụng giảm đi rất nhiều và nội dung của các công trình nghiên cứu còn chưa phong phú.

Thứ sáu, kinh phí phục vụ cho những đề tài NCKH của giảng viên không nhiều. Đây cũng là điểm bất cập, gây khó khăn cho công tác phát triển NCKH trong giảng viên. Bên cạnh đó, chất lượng đội ngũ cán bộ nghiên cứu khoa học chưa đồng đều, thiếu chuyên gia đầu ngành trong nhiều lĩnh vực và chưa đủ sức đảm nhiệm các nhiệm vụ nghiên cứu có tầm cỡ khu vực và quốc tế.

Thứ bảy, hầu hết tất cả các trường đều có hội đồng khoa học. Nhưng hội đồng thường dừng lại ở việc tổ chức nghiệm thu, đánh giá, chứ chưa đưa ra được những định hướng NCKH hàng năm cho giảng viên, cán bộ công nhân viên. Bên cạnh đó là chính sách khuyến khích NCKH còn thiếu tính đồng bộ và chưa tạo được động lực NCKH trong giảng viên, cán bộ công nhân viên.

Đọc thêm...
 
Hoạt động văn nghệ

ĐÊM VĂN NGHỆ MỪNG ĐẢNG MỪNG XUÂN

Tối ngày 12/2/2015, tại sân nhà Đa năng, Đoàn trường Trường Cao đẳng Sơn La đã phối hợp với Đoàn Ca Múa Nhạc dân tộc Tỉnh Sơn La tổ chức đêm giao lưu văn nghệ mừng Đảng mừng xuân dành cho HSSV của cán bộ giảng viên và bà con nhân dân xã Chiềng Sinh. Chương trình đã nhận được sự quan tâm của BGH trường Cao đẳng Sơn La, lãnh đạo UBND phường Chiềng Sinh, và sự ủng hộ nhiệt tình của cán bộ giảng viên, HSSV và bà con nhân dân xã Chiềng Sinh.

Sau phần tặng hoa long trọng mà ủy ban nhân dân xã Chiềng Sinh và Trường Cao đẳng Sơn La tặng cho ca sĩ diễn viên của Đoàn là những tiết mục văn nghệ đặc sắc mang đậm bản sắc dân tộc mà đoàn ca múa nhạc mang tới. Với các thể loại đơn ca, tốp ca, tốp ca, nhảy hiện đại được dàn dựng công phu và biểu diễn hết sức nhiệt tình đã đem đến cho học sinh sinh viên của Nhà trường một bữa tiệc tinh thần phong phú. Nhiều bạn sinh viên đã thể hiện mong muốn đoàn trường tổ chức nhiều hơn nữa để sinh viên được thưởng thức nghệ thuật và nâng cao đời sống tinh thần. Đòng thời sinh viên của nhà trường cũng được học hỏi giao lưu và thể hiện tài năng của mình. Đêm giao lưu văn nghệ mừng Đảng mừng Xuân đã kết thúc nhưng thành công của đêm diễn vẫn lắng đọng sau những tràng vỗ tay giòn giã và trong ánh mắt hân hoan của tuổi trẻ trường Cao đẳng Sơn La với hy vọng xuân mới tràn đầy sức trẻ và thành công!

Hoàng Vân- HNVL2015

 
HƯỚNG NGHIỆP

LỰA CHỌN NGÀNH NGHỀ PHÙ HỢP VỚI KHẢ NĂNG

 

Để các bạn học sinh lựa chọn được ngành nghề phù hợp TTHN và XTVL trường Cao đẳng Sơn La cung cấp cho các bạn thông tin với những yêu cầu về đặc điểm tâm lý,  năng lực học tập để các bạn tham khảo và Sinh viên trường CĐSL giới thiệu với người nhà chọn được ngành nghề phù hợp trong mùa tuyển sinh năm 2015

STT

Nhóm xu hướng nghề

Y/c về phẩm chất tâm lý và năng lực học tập

1

Hoạt động giao tiếp sự vụ ( Nhân viên bán hàng, tiếp thị, quảng cáo, tiếp viên thương mại, du lịch, khách sạn, nhà hàng, ngân hàng, bưu điện, y tế, du lịch cộng đồng…)

- Lịch sự niềm nở, giới thiệu hấp dẫn.

- Nhiệt tình nhanh nhẹn, ứng xử linh hoạt,

- Khả năng diễn đạt lưu loạt, linh hoạt về ngôn từ, hiểu biết về lịch sử văn hóa. Làm việc hiệu quả ngăn nắp, gọn gàng,

- Sôi nổi - hướng ngoại, điềm tĩnh-  hướng nội.

- Thích hợp khi học các môn: Văn , sử , địa , ngoại ngữ…

2

Hoạt động giao tiếp trí tuệ

( Lãnh đạo, quản lý, giáo viên, nhà giáo dục, nhà báo, luật sư, bác sĩ, cán bộ, nhân viên các đoàn thể các ngành văn hóa, pháp lý, kinh tế)

- Nhạy cảm có óc quan sát

- Kiên trì, nhẫn nại, có phương pháp làm việc, điều độ.

- Có năng lực tư duy, cáo khả năng giao tiếp tốt

- Có tính quyết đoán, thất bại không nản.

- Về khí chất: Điềm tĩnh - hướng nội, linh hoạt - hướng ngoại

- Học các môn: Khoa học xã hội và khoa học tự nhiên với các môn: Toán, Lý , Hóa , Sinh

3

Hoạt động khoa học kỹ thuật( Cnghieen cứu, thực nghiệm, quản lý trong các ngành KHKT, người quianr lý trong các nhành KHXH, kỹ sư, cán bộ kỹ thuật, giao thông , cơ khí, điện, điện tử…)

- Có óc phán đoán làm chủ KHKT, làm việc có phương pháp khoa học.

- Kiên trì bền bỉ, chịu đựng khó khăn

- Có tính quyết đoán, xử lý nhanh các tình huống,

- Về khí chất: Điềm tĩnh – hướng nội, linh hoạt – hướng ngoại

- Học các môn khoa học tự nhiên.

4

Hoạt động thực hành kỹ thuật( Kĩ sư thực hành, cán bộ làm nhiệm vụ chế tạo, sản xuất kiểm tra trong các ngành công nông nghiệp, nhân viên theo dõi điều khiển các hệ thống điện – điện tử, công nhân gia công sửa chữa, sản xuất sản phẩm )

- Say mê, nghiêm túc thực hiện các quy trình kỹ thuật, có óc sáng tạo, khéo tay, làm việc tỉ mỉ,. Chịu đựng được trạng thái làm việc căng thẳng, kiên trì, bền bỉ, dẻo dai, có sức khỏe tốt, có trí tưởng tượng không gian, nhạy cảm khả năng chú ý tốt.

- Khí chất: ưu tư điềm tĩnh- hướng nội

- Học khá các môn khoa học tự nhiên.

5

Hoạt động lao động thủ công ( Công nhân sửa chữa lắp ráp các chi tiết nhỏ, thợ thủ công sản xuất hành mỹ nghệ, bằng các vật liệu khác nhau: Vàng, bạc, mây, tre, đá)

- Khéo tay, làm việc cẩn thận tỉ mỉ, ngăn nắp, có ý thức tìm tòi cái mới, Kiên trì nhẫn nại, thị lực và khả năng phân tích màu sắc tốt,

- Khí chất tính cách: ưu tư - điềm tĩnh, hướng nội

- Có kiến thức văn hóa phổ thông

6

Hoạt động tư duy trừu tượng (Cán bộ trong lĩnh vực NCKH, triết học, nghệ thuật, người sáng tác, thiết kế lĩnh vực mỹ thuật, nghệ thuật, kiến thức sư, nhà văn, họa sỹ, nhạc sỹ)

- Nhạy cảm có khả năng tư duy tốt.

- Kiên trì nhẫn nại ham hiểu biết, có khả năng sáng tạo và óc quan sát tinh tế.

- Có khả năng phân tích tổng hợp tốt.

- Có trí tưởng tượng không gian và nhận biết tốt hình dạng vật thể

- Khí chất tính cách: Ưu tư- hướng nội

- Học khá các môn: KHXH, KHTN

 

7

Hoạt động không sáng tạo

( Công nhân thi công các công trình xây dựng, giao thông vận tải, công nhân làm việc trong các dây chuyền sản xuất các nhà máy xí nghiệp, chăn nuôi, công nhân điều khiển các phương tiện bốc dỡ)

- Có ý thức về sự chính xác. Làm việc ngăn nắp, có phương pháp,. Khả năng tập trung chú ý tốt. Có sức khỏe tốt, bền bỉ cần cù chịu đựng được sự căng thẳng của thần kinh môi trường làm việc

- Khí chất tính cách: ưu tư, điềm tĩnh , hướng nội.

- Có kiến thức văn hóa phổ thông

Trên đây là những thông tin tham khảo, chúc các bạn lựa chọn được những ngành nghề phù hợp với năng lực và sở trường của bản thân

ST:  Mây Vàng – TTHNXTVL2005

 


Trang 1 trong tổng số 15
free pokerfree poker

Video giới thiệu trung tâm

Đang trực tuyến

Hiện có 17 khách Trực tuyến
Trung tâm Hướng nghiệp và Xúc tiến việc làm
P 104 – Nhà T – Trường CĐSL, tổ 2, phường Chiềng Sinh, TP Sơn La