NÂNG CAO KỸ NĂNG NGHE NÓI ĐỌC VIẾT

NÂNG CAO KỸ NĂNG NGHE, NÓI, ĐỌC, VIẾT CHO HỌC SINH DÂN TỘC

NÂNG CAO CÁC KỸ NĂNG NGHE, NÓI, ĐỌC, VIẾT CHO HỌC SINH DÂN TỘC.

 

         I. Rèn luyện kỹ năng nghe

         1. Nghe một cách có ý nghĩa: Là nghe và hiểu nó, phản hồi được một cách sáng tạo cái điều mà chúng ta nghe thấy. Như vậy, nghe không phải thể hoạt động thụ động mà là một kỹ năng cần sử dụng để nhận biết mục đích, ý nghĩa của người nói. Nghe hiểu tức là khi người nghe hiểu được người nói đang nói gì.

Thử ước lượng giữa 4 kỹ năng Nghe, nói, đọc, viết mỗi kỹ năng chiếm bao nhiêu % ở lớp. Ví dụ Nghe ( 40%), nói (15%), đọc (30%), viết (20%). Các con số ước lượng trên sẽ khác nhau trong mỗi loại bài học, môn học và mỗi học sinh. Thời gian cho HS nghe thường bao giờ cũng là nhiều nhất nhưng cũng là ít được chú trọng rèn ở nhà trường. Ví dụ GV giảng bài, làm mẫu ( khi làm mẫu thì cũng kèm theo lời giải thích); hướng dẫn HS hoạt động; giao nhiệm vụ;  nhận xét đánh giá kết quả học tập của học sinh…

          Có những môn học thời gian HS dùng để nghe có thể chiếm tới 50%.


         2. Làm thế nào để HSDT nghe hiệu quả?

          - Trong cuộc sống, kỹ năng nghe của con người được sử dụng rất nhiều. Các dạng của kỹ năng nghe cũng rất đa dạng: Nghe ngẫu nhiên, nghe có chủ đích. Ngay cả với dạng nghe có chủ đích  cũng không giống nhau: Nghe để giải trí          (nghe ca nhạc, nghe kể chuyện…), nghe để thu thập thông tin (hội họp, nghe tin tức thời sự, khoa học trên ti vi…), nghe để giải quyết vấn đề; nghe để chia sẻ giao lưu về thông tin, tình cảm (trò chuyện, tâm tình), nghe để học…

          - Với học sinh, mục đích nghe phải được xác định rõ ràng nếu không các em sẽ không hiểu mình nghe để làm gì. Việc chúng ta giúp HS xác định nghe buộc các em chăm chú hơn. Ví dụ: khi giáo viên trình bày một vấn đề nào đó có dùng cách nói “tôi sẽ kiểm tra xem các em đã nghe được tôi nói những gì”. Thì sau lệnh đó, HS sẽ chăm chú hơn nhiều và hiệu quả hơn rõ rệt.

          - Trước mỗi bài học giáo viên nên giới thiệu khái quát về bài học. Ví dụ: Bài học gồm những nội dung nào, phần nào là trọng tâm, mục đích, yêu cầu của bài học là gì… để cuối giờ các em có sự liên kết  lại các vấn đề và chú tâm hơn khi nghe giảng và thực hiện các hoạt động.

          - Khi tổ chức các hoạt động tìm hiểu nội dung của bài học, cần xác định xem chúng ta đưa ra các hướng dẫn cho HS bằng cách nào? Cần có những yêu cầu gì? Có thể huy động những kiến thức liên quan nào đã biết giúp HS nghe và hiểu dễ hơn ( nghe điều mới trên cơ sở cái học sinh đã biết).

          - Cuối mỗi bài học nên có sự tóm tắt tổng quát lại những nội dung đã học trong bài để học sinh có cái nhìn tổng quát.

          - Với HS DTTS sẽ dễ hơn nếu giáo viên nói chậm rãi, rõ ràng, diễn đạt bằng những từ ngữ giản dị, gần gũi với đối tượng HS. Điều này không khó nhưng GV lại hay quên, họ thường nói nhanh, dùng những cụm từ phức tạp, xa lạ, cao siêu với HS. Để thực hiện được điều này, GV cần lập rõ kế hoạch ngôn ngữ sẽ sử dụng trong bài học ( từ, mẫu câu) khi soạn bài.

          - Khi nói, chúng ta cần quan sát xem ánh mắt, thái độ, phản ứng của HS để xem sự chú ý của các em đến mức độ nào và điều chỉnh kịp thời. Nếu lớp học ồn, cần phải có những hoạt động, lời nói để lấy lại tập trung của HS bằng cách: có thái độ thân thiện, có thể pha chút hài hài hước; không nên sử dụng hình thức nói to hơn hoặc chỉ trích nặng lời…

          - Cũng có thể kiểm tra sự chú ý, sự hiểu của HS bằng cách dừng lại và đặt một câu hỏi về vấn đề các em đang theo dõi.

          - Sử dụng các thiết bị hỗ trợ giúp cho việc nghe hiệu quả hơn như tranh ảnh, mô hình , vật thật… để HS có thể kết hợp nhìn bằng mắt. Sự hỗ trợ này đặc biệt tốt cho phần giảng giải và làm mẫu. Nó hiệu quả cả với HS bình thường; HSDT phải chú trọng nhiều hơn và được chuẩn vị sẵn trong bài giảng của  GV.

          - Những đoạn văn bản dài cần đặt cho HS nghe, điều quan trọng là các em phải hiểu được những từ khó, những thuật ngữ… trong bài đọc. GV có thể giới thiệu và giải nghĩa trước.

          - Cần có thời gian chờ đợi: Khi GV đặt một câu hỏi tìm hiểu nội dung bài học hoặc vấn đề gì đó cần đặt cho HS thời gian để nghe những gì GV vừa nói và có thời gian để suy nghĩ câu trả lời. Điều này rất cần thiết nhưng GV thường xuyên hay quên, cứ dứt câu nói là lập tức gọi HS đứng dậy trả lời.

I. Rèn kỹ năng nói

1. Nói một cách có ý nghĩa: Là nói với sự hiểu biết của chúng ta về một  kinh nghiệm hay về một sự kiện nào đó mà người nghe hiểu được điều chúng ta muốn nói.

2. Làm thế nào giúp HS nói có hiệu quả?

          Trong thực tế hai kĩ năng nghe nói đi liền với nhau. Làm thế nào để HS tự tin hơn và đạt hiệu quả cao hơn trong sự trình bày, phát biểu suy nghĩ, ý tưởng của mình trước người khác?

- Luyện cho HS kĩ năng nghe và đáp lời, nói những câu rõ ràng, mạch lạc trong giao tiếp, khi trả lời câu hỏi trong bài học.

- Luyện cho HS cách hỏi bằng những câu hỏi để có thể hiểu chính xác hơn nội dung khi nghe chưa rõ.

- Luyện cho HS nghe và hiểu được theo nội dung lời nói. Tăng dần mức độ đến mức hiểu và theo kịp những chỉ dẫn và lời nói.

- Luyện cho HS chia sẻ và trao đổi những thông tin, ý tưởng với bạn bè, thể hiện ra bằng câu nói hoàn chỉnh và mạch lạc, diễn đạt  chính các để người nghe hiểu đúng suy nghĩ của mình.

- Luyện cho HS biết kể một câu chuyện đã trải qua, đã nghe kể hoặc đã đọc theo kết cấu cơ bản và kết nối các sự kiện của câu chuyện bằng cách trả lời câu hỏi về Ai? Cái gì? Khi nào? Tại sao? Như thế nào? Chú ý đến trường độ của âm thanh, sự lên xuống giọng, tốc độ, điệu bộ, cử chỉ…

- Luyện cho HS kể lại một sự kiện quan trọng trong đời sống hoặc một kinh nghiệm cá nhân bằng cốt truyện đơn giản.

- Luyện cho HS trình bày những kinh nghiệm, sở thích cá nhân bằng những đoạn trình bày ngắn gọn và có chủ đề rõ ràng, bám sát chủ đề khi nói, có mở và kết thúc hợp lí.

+ Mô tả/trình bày lại công việc đã làm của bản thân trước nhóm/cả lớp( các bước, thứ tự thực hiện, kĩ thuật thực hiện, kết quả…); trình bày kết quả thảo luận của nhóm trước lớp…

- Luyện cho HS biết cách đề xuất ý riêng của cá nhân khi thảo luận nhóm, khi tranh luận về một vấn đề trong nhóm hoặc tập thể lớp hoặc đề xuất ý kiến riêng với GV.

- Luyện cho HS có thói quen và biết cách nói để đề nghị người khác và giúp đỡ khi cần.

- Luyện cho HS biết cách nêu câu hỏi cho GV về bài học. Đôi khi HS muốn hỏi GV nhưng các em không biết cách diễn đạt câu hỏi hoặc nội dung câu hỏi lại không phù hợp với điều các em muốn hỏi. GV cần chú ý giúp HS hiểu rõ mục đích hỏi là ai? Nội dung gì? Biết cách diễn đạt câu hỏi cũng như sử dụng những từ để hỏi trong tiếng Việt như Ai? Cái gì? Ở đâu? Tại sao? Như thế nào? Để làm gì?...

III. Rèn kĩ năng đọc

1. Đọc một cách có ý nghĩa.

Hàng ngày chúng ta đọc những gì? Đọc truyện, sách báo, biển báo( trường học, cơ quan…) , nhãn hàng hóa, thông tin, quảng cáo... để tiếp nhận thông tin.

Đọc một cách có ý nghĩa là hiểu nội dung có ý nghĩa văn bản mình đọc, hiểu được chiều sâu của văn bản và những điều mà văn bản muốn đề cập đến đằng sau những câu chữ được thể hiện trực tiếp, tường minh trong văn bản ấy.

 Trong nhà trường, HS đọc các tài liệu học tập. Qua việc tiếp xúc với các loại văn bản (văn bản mẫu về văn chương, về ngôn từ, các văn bản khoa học chứa đựng các thuật ngữ khoa học, cách trình bày định lí, định luật…) trong chương trình học, vốn kiến thức ngôn ngữ, văn học, khoa học, nghệ thuật… của HS cũng sẽ dần tăng lên. Vốn từ vựng và ngữ pháp của các em ngày một phong phú, vững vàng, có tác dụng tích cực cho việc rèn luyện tư duy, rèn luyện kĩ năng diễn đạt gọn gàng, trong sáng.

2. Làm thế nào giúp HSDT đọc hiệu quả?

- Lưu ý thực hiện một số hoạt động trước khi HS đọc:

+ Nêu mục đích, yêu cầu của việc đọc để giúp HS đọc tốt hơn.

+ Xác định và luyện đọc một số từ khó đọc ( do cấu trúc âm tiết khó đọc) để HS không bị vấp khi đọc.

+ Xác định và luyện đọc một số câu dài, cấu trúc khó trong bài ( cấu trúc nguyên nhân -  kết quả, điều kiện -  kết quả; câu cảm thán, đoạn có lời thoại…).

+ Giải thích một số từ vựng chủ chốt trong bài ( từ mới, từ có nghĩa trừu tượng, thuật ngữ khoa học…).

- Một số kĩ năng cần luyện cho HS:

Luyện cách đọc, giọng đọc phù hợp với các loại văn bản khác nhau:

HS phải đọc rất nhiều văn bản khác nhau: văn bản nghệ thuật, hành chính, khoa học, báo chí,… Mỗi văn bản được viết ra thuộc về 1 phong cách nhất định, mang những đặc điểm riêng khác biệt. Như vậy HS cần lựa chọn cách đọc, giọng đọc phù hợp với thể loại nội dung văn bản. Đọc văn chính luận phải mạnh mẽ hùng hồn phản ánh rõ chính kiến của người viết đối với vấn đề được đưa ra bàn bạc và sao cho người nghe dễ hiểu; đọc văn bản nghệ thuật phải hiểu được cảm xúc, thái độ của tác giả đối với sự kiện, nhân vật được đề cập trong tác phẩm và khiến cho người nghe bị lôi cuốn; đọc các văn bản thuyết minh, khoa học, hành chính… phải rõ ràng, chậm rãi, sao cho người nghe dễ theo dõi nội dung trình bày trong văn bản…Nhưng đọc thật sự chỉ có ích khi nào nó tách rời khỏi việc hiểu rõ cách đang đọc.

Luyện kĩ năng đọc thầm:

+ Khi đọc thầm, do không phải phát ra thành tiếng, thành lời, nên người đọc hao tổn sức lực, đỡ mệt mỏi hơn.

+ Đọc thầm không phải  đọc tất cả các chữ mà có thể đọc lướt nên tốc độ đọc thầm nhanh hơn đọc thành tiếng.

- Đọc thầm giữ nguyên được sự yên tĩnh, không làm ảnh ưởng tới suy nghĩ, tới công việc của người khác khi làm việc trong cùng một không gian hẹp.

+ Đọc thầm cho phép người đọc có điều kiện tập trung tư tưởng theo dõi văn bản khi đọc và có thể đọc đi đọc lại những câu chữ mà mình chưa hiểu giúp người đọc nắm chắc nội dung văn bản.

Luyện kĩ năng đọc thầm, đọc lướt để nắm thông tin:

          Đọc thầm ( đọc lướt bằng mắt) để nhận biết nội dung thông tin có trong văn bản. Đọc thầm vì không cần phát âm thành tiếng nên tốc độ đọc thường nhanh hơn so với đọc thành tiếng. Trong đời sống của người lớn, từ 95% đến 99% là đọc thầm nên việc dạy học đọc thầm cho HS trong nhà trường không chỉ là việc rèn luyện cho các em một năng lực học tập mà quan trong hơn, còn rèn luyện cho các em một năng lực hoạt động trong cuộc sống.

Chất lượng của việc đọc thầm sẽ được đánh giá qua chất lượng của HS trả lời các câu hỏi/yêu cầu: đọc lướt để trả lời câu hỏi; đọc lướt để lấy thông tin chính trong mỗi đoạn; đọc lướt để tóm tắt nội dung của từng đoạn, của bài đọc…

Các thành tựu nghiên cứu của tâm lí học đã chỉ ra rằng độ dẫn thông ( nhận và truyền thông tin) các giác quan con người có sự khác nhau. Tuy nhiên đọc chóng mệt mỏi hơn việc nghe nhưng độ dẫn thông của mắt lại gấp 100 lần của tai . Khi đọc,  cơ quan thị giác của con người phải lướt nhanh từ dòng chữ này sang dòng chữ khác nên việc đọc văn bản dài, đọc lâu là hết sức khó khăn. Hơn nữa, việc dịch chuyển các dòng chữ trên trang sách không ai giống ai. Có người dịch chuyển nhanh, có người dịch chuyển chậm; có người bao quát được một số lượng con chữ nhiều, có người lại bao quát được một số lượng con chữ ít… Thêm vào đó, có người đọc xong và nhớ và duy trì được độ nhớ trong suốt quá trình đọc văn bản, có những người vừa đọc đã quên. Vì vậy, việc rèn luyện kĩ năng đọc lướt giữ vai trò hết sức quan trọng. GV có thể sử dụng một số hình thức bài tập giao cho HS đọc lướt với các yêu cầu tăng dần ( cùng 1 văn bản có độ dài, độ khó về thông tin như nhau, nâng cao dần yêu cầu: Đọc trong thời gian 10 phút, 7 phút, 5 phút…):

+ Đọc và nói đại ý/ nội dung chính của văn bản.

+ Đọc và biết ý chính của từng đoạn trong văn bản;  lập lại dàn ý của văn bản.

+ Đọc và tóm tắt một văn bản khoa học, văn bản tự sự.

+ Đọc và kể lại cái đã đọc.

Luyện kĩ năng đọc và tìm hiểu ý nghĩa của bài văn, bài thơ:

Việc đọc để đạt được chất lượng cao phải được HS thực hiện một cách có ý thức. Đó là việc đọc và hiểu một cách sâu sắc về nội dung của bài văn. Kĩ năng này được hình thành trên cơ sở hiểu biết ý nghĩa của từng từ, ý của từng câu, xác định được các quan hệ logic và tâm lí giữa các phần của văn bản đọc. Các yêu cầu có thể luyện cho HS là:

+ Đọc và phát hiện các từ ngữ, hình ảnh, hoặc chi tiết có ý nghĩa trong bài văn, bài thơ, trích đoạn kịch ; chi tiết có giá trị nghệ thuật.

+ Đọc và nhận xét về nhân vật, về hình ảnh, hoặc cách sử dụng từ ngữ cũng như tình cảm và thái độ của tác giả.

Luyện kĩ năng đọc và tra từ điển, một số sách công cụ như sổ tay từ ngữ, ngữ pháp… để tìm và ghi chép thông tin.

Luyện kĩ năng đọc và nhận biết nội dung ý nghĩa của các kí hiệu, số liệu, biểu đồ trong văn bản.

IV. Rèn luyện kĩ năng viết.

Viết một cách có ý nghĩa là viết trao đổi những ý kiến, suy nghĩ những nội dung thông tin nào đó.

Làm thế nào để giúp HSDT viết có hiệu quả?

+ Khơi gợi những kiến thức sẵn có của HS: viết về bất cứ nội dung nào, HS phải có hiểu biết, có kinh nghiệm, có quan điểm về vấn đề đó.

+ Xem xét vốn từ vựng liên quan đến chủ đề cần viết (sử dụng những từ ngữ có tính chất miêu tả khi nói về con người, nơi chốn, đồ vật, sự kiện…; những thuật ngữ khoa học khi trình bày về một vấn đề; những từ thể hiện cảm xúc…); cấu trúc ngữ pháp (các cấu trúc truyền thống để truyền tải thông tin như nguyên nhân – kết quả, giống và khác nhau, nêu và trả lời câu hỏi); kết nối các sự kiện của câu chuyện với các yếu tố nhân vật, bối cảnh, chi tiết…; miêu tả các yếu tố của câu chuyện…; miêu tả cảm giác, cảm xúc khi kể chuyện…, những câu cần thiết về chủ đề đó.

+ Giúp HS khơi gợi ý tưởng: Cho HS nói ý tưởng của mình về nội dung chủ đề của bài viết. GV hướng dẫn, đưa ra nhưng câu hỏi khơi gợi trẻ xem các em sẽ viết như thế nào. Ví dụ: Chúng ta nên viết bắt đầu như thế nào? Làm thế nào để diễn đạt thật chính xác điều muốn nói? Có cách nào để viết hay hơn không?

+ Giúp HS định hình kiểu dạng bài  và phác thảo những ý kiến về nội dung cần viết ( luận điểm).

+ Biết cách chia luận điểm, triển khai một luận điểm, trình bày mạch lạc để chuyển tải nội dung được rõ ràng (lựa chon cách diễn đạt để truyền đạt thông tin; nhấn mạnh cách ý quan trọng để làm rõ nội dung chủ đề cần viết).

+ Sắp xếp các ý đã phác thảo theo một trình tự nhất định: Trình tự không gian, thời gian… xoay quanh nội dung chính ( lập dàn ý cho bài viết theo cấu trúc văn bản).

+ Dành thời gian cho HS viết độc lập và hoàn thành bài viết.

+ Cùng xem lại bài viết: có thể theo hình thức cặp, nhóm. GV hỗ trợ HS đưa ra câu hỏi để giúp các em tự tìm ra lỗi, tự sữa lỗi câu cho mình.

 

 

 

Tập tin đính kèm:
FileFile size
Download this file (NÂNG CAO CÁC KỸ NĂNG NGHE....doc)Kỹ năng nghe, nói , đọc, viết cho học sinh dân tộc55 Kb
 
free pokerfree poker